BẢN TIN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT SỐ 01/2017
Nội dung:
Phần 1. Văn bản chính sách mới
Tổng hợp các văn bản của trung ương, tỉnh, thành phố  được ban hành từ ngày 01/01 đến 31/3/2017
Phần 2. Đề cương tuyên truyền Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị
Phần 3. Tin nổi bật về hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật
Phần 4. Câu chuyện pháp luật
Biên soạn: Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
Website: http://tuphaptamky.gov.vn
Địa chỉ: 70 Hùng Vương, Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 0235.851.772
Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn
***
PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
--------------
1.           Bộ luật Dân sự 2015
Bộ luật dân sự 2015 có điểm mới nổi bật là “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật”.
Quy định tiến bộ này nhằm xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết mọi tranh chấp trong nhân dân, góp phần bảo đảm ổn định trật tự xã hội.
Trước đây, những tranh chấp về việc bốc mộ, chăm sóc mồ mả hoặc kiện đòi giấy tờ hành chính như sổ hộ khẩu... tòa án không thụ lý giải quyết vì cho rằng chưa có điều luật quy định.
Một điểm đáng lưu ý nữa là Bộ luật dân sự mới quy định mức trần lãi suất cho vay giữa các cá nhân với nhau là 20%/năm.
Cụ thể, theo điều 468 bộ luật này, lãi suất vay do các bên thỏa thuận và không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn như đã nêu trên tại thời điểm trả nợ.
Bộ luật Dân sự 2015 cho phép chuyển đổi giới tính đối với những người đã định hình, hoàn thiện về giới tính.
Luật nêu rõ việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính theo quy định của bộ luật này và luật khác có liên quan. Vì BLDS 2015 quy định “việc chuyển đổi giới tính phải được thực hiện theo quy định của luật”, do đó cho đến khi có luật về chuyển đổi giới tính thì các cá nhân mới được thực hiện quyền này.
Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017.
2.           Luật Phí và Lệ phí năm 2015
Nghiêm cấm các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức, cá nhân tự đặt và thu các loại phí, lệ phí trái với quy định của pháp luật. Đồng thời, phải niêm yết công khai tại địa điểm thu và trên trang thông tin điện tử về tên phí, lệ phí, mức thu, phương thức thu, đối tượng nộp, miễn, giảm phí, lệ phí…
Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017,
3.           Luật Báo chí năm 2016
Nghiêm cấm báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân; Quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án; Tiết lộ thông tin thuộc bí mật đời tư của cá nhân, bí mật Nhà nước và các bí mật khác theo quy định; Thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội…
Báo điện tử phải thực hiện chế độ lưu trữ nguyên vẹn nội dung thông tin đăng, phát trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đăng, phát để phục vụ công tác kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước.
Luật Báo chí số 103/2016/QH13 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 1-1-2017.
4.           Luật Kế toán năm 2015
Từ 1-1-2017, người đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán, ngoài việc phải có Chứng chỉ kế toán viên hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên; có năng lực hành vi dân sự; tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức theo quy định, còn phải có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán từ 36 tháng trở lên kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học. Sẽ cấp Chứng chỉ kế toán viên thay cho Chứng chỉ hành nghề kế toán. Chứng chỉ hành nghề cấp trước 2017 vẫn có giá trị.
Theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13 của Quốc hội, từ năm 2017 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017.
5.           Luật Dược năm 2016
Từ 1-1-2017, nghiêm cấm bán lẻ thuốc kê đơn mà không có đơn thuốc; Bán lẻ vắc xin; Sản xuất, pha chế, bán thuốc cổ truyền có kết hợp với dược chất khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền…
Nhà thuốc phải ghi rõ tên thuốc, hàm lượng, hạn dùng cho người sử dụng trong trường hợp bán lẻ thuốc không đựng trong bao bì ngoài của thuốc; trường hợp không có đơn thuốc đi kèm, phải ghi thêm liều dùng, số lần dùng và cách dùng.
(Luật Dược số 105/2016/QH13 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017).
6.           Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đại diện cho cộng đồng chủ trì tổ chức việc giám sát ngân sách Nhà nước. Nội dung giám sát bao gồm: Việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước; Tình hình thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm và việc thực hiện công khai ngân sách Nhà nước theo quy định.
Ngoài ra, mức dư nợ vay của Hà Nội và TP.HCM không được vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp. Đối với các địa phương còn lại, mức dư nợ vay tối đa bằng 30% hoặc 20%.
(Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 1-1-2017)
7.           Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư năm 2016
Từ 1-1-2017, số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là 243 ngành, nghề (thay vì 267 ngành, nghề như quy định cũ). Các ngành nghề được loại bỏ ra khỏi danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện gồm dịch vụ tổ chức dạy thêm, học thêm; sản xuất phim; nhập khẩu hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước (cửa kho tiền); kinh doanh dịch vụ tổ chức lễ hội…
Bổ sung 2 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện mới là: sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô và kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị (áp dụng từ ngày 1-7-2017). Bổ sung hoạt động kinh doanh pháo nổ vào danh mục các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh.
Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư số 03/2016/QH14 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017.
8.           Phạt xe không chính chủ
Từ ngày 1-1-2017 người dân không sang tên chính chủ thì sẽ áp dụng điều 30 nghị định 46/2016/NĐ-CP, cảnh sát giao thông phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đến 400.000 đồng với tổ chức là chủ xe môtô, xe gắn máy và các loại xe tương tự không làm thủ tục đăng ký sang tên. Tuy nhiên, việc phạt xe không chính chủ chỉ được thực hiện trong khi phát hiện ra lỗi vi phạm giao thông, hay qua công tác quản lý hồ sơ.
Quy định này được áp dụng với cả những trường hợp được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe môtô, xe gắn máy và các loại xe tương tự.
(Khoản 1 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt).
9.           Chuyển thuế môn bài thành lệ phí môn bài
Theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP quy định về lệ phí môn bài (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017, thay thế Nghị định 75/2002/NĐ-CP về điều chỉnh mức thuế môn bài), từ ngày 1-1-2017 (ngày Nghị định 139 có hiệu lực), thuế môn bài sẽ chuyển sang thành lệ phí môn bài và cho phép bảy trường hợp được miễn lệ phí môn bài, gồm:
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hằng năm từ 100 triệu đồng trở xuống.
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh không thường xuyên; không có địa điểm cố định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất muối.
- Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.
- Điểm bưu điện văn hóa xã, cơ quan báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử).
- Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã hoạt động dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Quỹ tín dụng nhân dân xã; hợp tác xã chuyên kinh doanh dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã và của doanh nghiệp tư nhân kinh doanh tại địa bàn miền núi. Địa bàn miền núi được xác định theo quy định của Ủy ban Dân tộc.
Căn cứ để xác định mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức là vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư và đối với hộ kinh doanh là doanh thu hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Cụ thể, đối với tổ chức kinh doanh có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư trên 10 tỉ đồng, mức lệ phí môn bài là 3 triệu đồng;
Từ 10 tỉ đồng trở xuống, mức 2 triệu đồng/năm; chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế khác, mức 1 triệu đồng/năm.
Đối với hộ kinh doanh có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm, mức lệ phí môn bài là 1 triệu đồng/năm; trên 300-500 triệu đồng/năm, mức nộp 500.000 đồng/năm và trên 100-300 triệu đồng, mức nộp 300.000 đồng/năm.
10.      Tăng lương tối thiểu vùng
Từ 1-1-2017, mức lương tối thiểu vùng sẽ tăng 180.000 đồng - 250.000 đồng/tháng so với hiện hành.
Cụ thể, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I là 3,75 triệu đồng/tháng; vùng II là 3,32 triệu đồng/tháng; vùng III là 2,9 triệu đồng/tháng và vùng IV là 2,58 triệu đồng/tháng (theo quy định cũ, các vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV tương ứng lần lượt là 3,5 triệu đồng; 3,1 triệu đồng; 2,7 triệu đồng và 2,4 triệu đồng).
(Nghị định số 153/2016/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động).
11.      Từ 1-1-2017, phải đóng 10% tiền phí nước thải sinh hoạt
Theo đó, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Đối với nước thải sinh hoạt từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng, mức phí được xác định theo từng người sử dụng nước, căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường, thị trấn nơi khai thác và giá bán 1 m3 nước sạch trung bình tại xã, phường, thị trấn ấy.
(Theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017).
12.      Vứt tàn thuốc lá không đúng nơi quy định, phạt đến 01 triệu đồng
Tại Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18-11-2016 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Chính phủ đã quyết định tăng mức phạt đối với một loạt các hành vi vi phạm về vệ sinh nơi công cộng.
Cụ thể, hành vi vệ sinh cá nhân (tiểu tiện, đại tiện) không đúng nơi quy định tại khu vực chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng bị phạt tiền từ một đến ba triệu đồng, trong khi trước đây mức phạt được quy định chỉ từ 200.000 đồng - 300.000 đồng; hành vi vứt, thải, bỏ đầu, mẩu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng - một triệu đồng, gấp 10 lần mức phạt được quy định trước đây. Tương tự, hành vi vứt, thải, bỏ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định bị phạt tiền từ ba đến năm triệu đồng. Mức phạt tiền từ 5 - 7 triệu đồng được áp dụng đối với hành vi vứt, thải rác thải sinh hoạt trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị và hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị.
Trường hợp người điều khiển phương tiện vận chuyển nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa không che chắn hoặc để rơi vãi ra môi trường trong khi tham gia giao thông sẽ bị phạt tiền từ 7 - 10 triệu đồng; không sử dụng thiết bị, phương tiện chuyên dụng trong quá trình vận chuyển nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa làm rò rỉ, phát tán ra môi trường, bị phạt từ 10 - 15 triệu đồng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-02-2017.
13.      Cấp GCN quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tăng thêm
Có hiệu lực từ ngày 3/3/2017, Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai. Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Trong đó, so với Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định 01/2017/NĐ-CP bổ sung quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tăng thêm so với giấy tờ về quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất.
14.      Hỗ trợ khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
Từ 25-2-2017, hộ nông dân, người nuôi trồng thủy sản, diêm dân, chủ trang trại… bị thiệt hại trực tiếp do thiên tai, dịch bệnh sẽ được hỗ trợ để khôi phục sản xuất
Theo đó, hỗ trợ 2 triệu đồng/ha với diện tích lúa thuần bị thiệt hại trên 70%; trường hợp thiệt hại từ 30 - 70%, hỗ trợ 1 triệu đồng/ha. Với diện tích mạ lúa thuần bị thiệt hại trên 70%; diện tích lúa lai bị thiệt hại trên 70% và diện tích mạ lúa lai bị thiệt hại trên 70%, mức hỗ trợ lần lượt là 20 triệu đồng/ha; 3 triệu đồng/ha và 30 triệu đồng/ha.
Đối với sản xuất lâm nghiệp và nuôi thủy, hải sản, hỗ trợ 4 triệu đồng/ha với diện tích cây rừng, cây lâm sản ngoài gỗ trồng trên đất lâm nghiệp, vườn giống, rừng giống bị thiệt hại trên 70%; mức hỗ trợ với diện tích cây giống được ươm trong giai đoạn vườn ươm bị thiệt hại trên 70% là 40 triệu đồng/ha; hỗ trợ từ 4,1 - 6 triệu đồng/ha diện tích nuôi tôm quảng canh (nuôi tôm lúa, tôm sinh thái, tôm rừng, tôm kết hợp) bị thiệt hại trên 70%...
Đối với gia súc, gia cầm, hỗ trợ 35.000đ/ con gia cầm, 38.000 đồng/kg hơi đối với lợn; 45.000 đồng/kg hơi đối với trâu, bò, dê, cừu, hươu, nai bị chết do dịch bệnh.
(Nghị định 02/2017/NĐ-CP về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh).
15.      Thu nhập 10 triệu được đánh bạc trong casino
Từ 15-3, sẽ thí điểm cho phép người Việt Nam được vào chơi tại điểm kinh doanh casino. Thời gian thực hiện thí điểm là 3 năm, kể từ ngày doanh nghiệp kinh doanh casino đầu tiên được phép thí điểm cho phép người Việt Nam chơi tại điểm kinh doanh casino.
Để được vào chơi tại điểm kinh doanh casino, người Việt Nam phải là người đủ 21 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; Không thuộc đối tượng bị người thân trong gia đình là bố, bố nuôi, mẹ, mẹ nuôi, vợ, chồng, con ruột hoặc bản thân có đơn đề nghị doanh nghiệp kinh doanh casino không cho phép chơi tại Điểm kinh doanh casino;
Người chơi phải chứng minh được có thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên hoặc thuộc diện chịu thuế từ bậc 3 trở lên; phải mua vé tham gia chơi với mức vé 1 triệu đồng/24 giờ liên tục/người hoặc 25 triệu đồng/tháng/người…
(Nghị định 03/2017/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh casino, có hiệu lực thi hành từ ngày 15-3-2017.)
16.      Người Việt được đặt cược bóng đá quốc tế
Theo Nghị định số 06/2017/NĐ-CP về việc kinh doanh, quản lý hoạt động kinh doanh và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh đặt cược đua ngựa, đặt cược đua chó và thí điểm đặt cược bóng đá quốc tế trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam, có hiệu lực ngày 31-3-2017. Từ 31-3, người Việt được đặt cược bóng đá quốc tế tối đa 1 triệu. Người chơi phải đủ 21 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Người chơi phải xuất trình giấy tờ cá nhân để chứng minh thuộc đối tượng được phép tham gia đặt cược khi doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu. Mức đặt cược tối thiểu cho một lần đặt cược là 10 nghìn đồng, tối đa là 1 triệu đồng.
Theo quy định, bóng đá quốc tế là những trận đấu, giải thi đấu bóng đá được tổ chức bên ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc được các tổ chức quốc tế đứng ra tổ chức trong lãnh thổ Việt Nam. Chỉ những doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đặt cược mới được kinh doanh đặt cược.
17.      Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã là người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí
Theo Nghị định 09/2017/NĐ-CP quy định phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước thì kể từ ngày 30 tháng 3 năm 2017, người phát ngôn của UBND cấp huyện, cấp xã phải là Chủ tịch.
Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì ủy quyền cho cấp phó của mình thực hiện việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Việc ủy quyền được thực hiện bằng văn bản, chỉ áp dụng trong từng vụ việc và có thời hạn nhất định.
Khi thực hiện ủy quyền thì họ tên, chức vụ, số điện thoại và địa chỉ e-mail của người được ủy quyền phát ngôn, văn bản ủy quyền phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước hoặc niêm yết tại trụ sở (đối với Ủy ban nhân dân cấp xã chưa có trang thông tin điện tử) trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ký văn bản ủy quyền, người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho người khác.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định: Các cá nhân của cơ quan hành chính nhà nước không là người được giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí được cung cấp thông tin cho báo chí theo quy định pháp luật nhưng không được nhân danh cơ quan hành chính nhà nước để phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp.
18.      Tăng phí chứng thực hợp đồng, giao dịch
Từ 1-1-2017, phí chứng thực hợp đồng, giao dịch sẽ tăng thêm từ 10.000 đến 20.000 đồng.
Cụ thể, phí chứng thực hợp đồng, giao dịch là 50.000 đồng/hợp đồng, giao dịch (tăng 20.000 đồng so với quy định cũ);
Phí chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch cũng được tăng từ 20.000 đồng lên 30.000 đồng/hợp đồng, giao dịch; phí sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực là 25.000 đồng/hợp đồng, giao dịch (mức phí cũ là 10.000 đồng).
Riêng phí chứng thực bản sao từ bản chính và phí chứng thực chữ ký vẫn được giữ nguyên là 2.000 đồng/trang với chứng thực bản sao từ bản chính, từ trang thứ ba trở lên thu 1.000 đồng/trang, mức thu tối đa là 200.000 đồng/bản và 10.000 đồng/trường hợp đối với chứng thực chữ ký.
(Theo Thông tư 226/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chứng thực, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017).
19.      Cơi nới phòng karaoke phải nộp phí
Cũng từ 1-1-2017, các cơ sở đã được cấp phép kinh doanh karaoke muốn đề nghị tăng thêm phòng sẽ phải nộp phí 2 triệu đồng/phòng tại thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh và 1 triệu đồng/phòng nếu ở các khu vực khác.
Mức thu phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh karaoke sẽ được xác định dựa theo số phòng và khu vực. Theo đó, các cơ sở kinh doanh tại thành phố trực thuộc Trung ương và thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh phải nộp 6 triệu đồng/giấy nếu có từ 1 đến 5 phòng và 12 triệu đồng/giấy nếu có từ 6 phòng trở lên (tại các khu vực khác mức phí tương ứng lần lượt là 3 và 6 triệu đồng).
(Thông tư số 212/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính về phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường).
20.      Lệ phí cấp lại biển số xe là 100.000 đồng/lần/xe
Đây là nội dung mới tại Thông tư 229/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Theo đó:
- Mức thu lệ phí cấp lại biển số đối với ô tô, xe máy là 100.000 đồng/lần/xe (theo quy định hiện hành thì việc cấp lại biển số thu theo giá mua biển số thực tế).
- Mức thu lệ phí cấp đổi giấy đăng ký không kèm theo biển số ô tô, xe máy là 30.000 đồng/lần/xe.
- Ô tô con không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, xe máy chuyển từ khu vực phải nộp lệ phí thấp về khu vực lệ phí cao thì áp dụng mức thu cấp mới giấy đăng ký tại mục I Biểu mức thu của Thông tư.
- Nếu việc chuyển khu vực vì di chuyển công tác, di chuyển hộ khẩu; mà khi đăng ký không thay đổi chủ xe, có đầy đủ thủ tục thì áp dụng mức thu cấp đổi giấy đăng ký, biển số tại mục II Biểu mức thu của Thông tư.
21.      Điều chỉnh tiền lương tháng đóng BHXH
Theo Thông tư 42/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đã đóng BHXH. Từ 11-2-2017, tiền lương tháng đóng BHXH sau điều chỉnh của từng năm bằng tổng tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định của từng năm nhân với mức điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của năm tương ứng. Trong đó, mức điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của các năm từ 2012 đến 2017 lần lượt là 1,15; 1,08; 1,03; 1,03; 1,00 và 1,00.
Thu nhập tháng đóng BHXH tự nguyện sau điều chỉnh của từng năm được xác định bằng tổng thu nhập tháng đóng BHXH của từng năm nhân với mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH của năm tương ứng. Trong đó, mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH của các năm từ 2008 đến 2017 lần lượt là 1,73; 1,62; 1,48; 1,25; 1,15; 1, 08; 1, 03; 1, 03; 1,00 và 1,00.
22.      Hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự
Từ ngày 12/2/2017, Thông tư 43/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về hướng dẫn chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành dự án phát triển kinh tế - xã hội bắt đầu có hiệu lực.
Theo đó, thanh niên có nhu cầu đào tạo nghề được chi hỗ trợ tiền ăn, đi lại theo Thông tư 152/2016/TT-BTC. Cụ thể, mức hỗ trợ tiền ăn: 30.000 đồng/người/ngày thực học; Mức hỗ trợ tiền đi lại: 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên.
23.      Đổi mã vùng điện thoại cố định cả nước
Theo Quyết định 2036/QĐ-BTTTT về việc chuyển đổi mã vùng viễn thông, việc chuyển đổi mã vùng viễn thông sẽ diễn ra ba giai đoạn, bắt đầu từ tháng 2-2017 đến tháng 7-2018.
Theo đó, giai đoạn 1 bắt đầu từ 11-2-2017, áp dụng cho 13 tỉnh, thành phố gồm:  Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 15-4 và giai đoạn 3 từ ngày 17-6 áp dụng cho các tỉnh, thành phố. Việc chuyển đổi sẽ diễn ra trong vòng một tháng cho mỗi giai đoạn.
Trong khoảng thời gian đó, người dân có thể dùng song song mã vùng mới hoặc cũ. Sau ngày 13-3 (của đợt 1), ngày 14-5 (của đợt 2) và ngày 16-7 (của đợt 3), các tỉnh, thành này sẽ dùng mã vùng mới hoàn toàn.
24.      Trẻ từ đủ 15 tuổi được mở tài khoản thanh toán không cần tài sản riêng
Thông tư 32/2016/TT-NHNN do NHNN ban hành sửa đổi, bổ sung một số điều về hướng dẫn việc mở, sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán sẽ có hiệu lực từ 01/3/2017.
Theo đó, quy định mới mở rộng hơn về đối tượng được mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, cụ thể:
- Cho phép trẻ từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được mở tài khoản thanh toán mà không cần phải có tài sản riêng như quy định hiện hành;
- Bổ sung thêm đối tương cá nhân là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng được mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
25.      Được vay tiền đi học, mua phương tiện đến 100 triệu
Từ 15-3, ngân hành cho vay đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua (mua phương tiện đi lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình; chi phí học tập, chữa bệnh, du lịch, văn hóa, thể dục, thể thao; chi phí sửa chữa nhà ở), sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng không được vượt quá 100.000.000 đồng.
Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay tiêu dùng để mua ô tô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật.
(Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 15-3).
26.      Nội dung thi THPT quốc gia
Theo thông tư 04/2017/TT-BGDĐT, nội dung thi THPT quốc gia năm 2017 chỉ nằm trong chương trình lớp 12 THPT; năm 2018 nằm trong chương trình lớp 11 và lớp 12 THPT; từ năm 2019 trở đi, nội dung thi nằm trong toàn bộ chương trình cấp THPT.
Kì thi THPT quốc gia gồm 5 bài, trong đó có 3 bài thi độc lập là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 2 bài thi tổ hợp là khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học), khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân với thí sinh học chương trình giáo dục THPT; Lịch sử, Địa lý với thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT).
Đặc biệt, thí sinh sẽ được đặc cách tốt nghiệp THPT nếu bị tai nạn, ốm hoặc có việc đột xuất đặc biệt trước ngày thi không quá 10 ngày hoặc ngay trong buổi thi đầu tiên, không thể dự thi; xếp loại học lực và hạnh kiểm cả năm lớp 12 từ khá trở lên.
27.      Không giới hạn nguyện vọng khi thi đại học
Từ kì tuyển sinh đại học năm 2017, thí sinh được đăng ký xét tuyển không giới hạn số nguyện vọng, số trường, nhưng phải sắp xếp nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp.
Sau khi có kết quả thi THPT quốc gia, thí sinh được điều chỉnh nguyện vọng một lần duy nhất, bằng phương thức trực tuyến hoặc trực tiếp tại nơi đăng ký dự thi.
(Thông tư 05/2017/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy; tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy, có hiệu lực thi hành từ ngày 10-3).
28.      Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 13/3/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam về Ban hành Bộ tiêu chí về xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017-2020 thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
          Quyết định quy định Bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chí cụ thể như sau:

TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu đạt chuẩn NTM
Khu vực 1(*) Khu vực 2(**)
1 Quy hoạch 1.1. Có quy hoạch chung xây dựng xã([1]) được phê duyệt và được công bố công khai đúng thời hạn Đạt Đạt
1.2. Ban hành quy định quản lý quy hoạch chung xây dựng xã và tổ chức thực hiện theo quy hoạch Đạt Đạt
2 Giao thông 2.1. Đường xã và đường từ trung tâm xã đến đường huyện được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm Tối thiểu 80% được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT([2]cấp A hoặc cấp B 100% được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp A hoặc cấp B
2.2. Đường trục thôn và đường liên thôn ít nhất được cứng hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm Tối thiểu 50% được bê tông hóa hoặc nhựa hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp B hoặc cấp C Tối thiểu 70% được bê tông hóa hoặc nhựa hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp B hoặc cấp C
2.3. Đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa Tối thiểu 50% được cứng hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp C hoặc cấp D Tối thiểu 70% được cứng hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp C hoặc cấp D
2.4. Đường trục chính nội đồng([3]) (hoặc đường vào khu sản xuất tập trung đối với xã miền núi) đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm Tối thiểu 50% được cứng hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp B hoặc cấp C Tối thiểu 70% được cứng hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đường GTNT cấp B hoặc cấp C
3 Thủy lợi 3.1. Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt từ 80% trở lên Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở những khu vực sản xuất tập trung([4]), các cánh đồng lớn, cánh đồng dồn điền đổi thửa tổ chức canh tác ổn định được tưới và tiêu nước chủ động đạt từ 80% trở lên
3.2. Đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theo quy định về phòng chống thiên tai tại chỗ Đạt Đạt
4 Điện 4.1. Hệ thống điện đạt chuẩn Đạt Đạt
4.2. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn ≥ 95% ≥ 98%
5 Trường học Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non/mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốc gia ≥ 70% ≥ 80%
6 Cơ sở vật chất văn hóa 6.1. Xã có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân (khu) thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã - Nhà văn hóa xã hoặc hội trường đa năng hoặc nhà làng truyền thống đảm bảo tối thiểu 100 chỗ ngồi và 01 phòng chức năng; có trồng hoa, cây xanh
- Sân thể thao/bóng đá xã có chiều dài tối thiểu 90 mét, chiều rộng tối thiểu 45 mét; có trồng cây xanh bóng mát
- Nhà văn hóa xã hoặc hội trường đa năng ở các xã thuộc các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn và xã hải đảo đảm bảo tối thiểu 150 chỗ ngồi và 01 phòng chức năng; các xã thuộc huyện/thị xã/thành phố còn lại đảm bảo tối thiểu 200 chỗ ngồi và 3 phòng chức năng; có trồng hoa, cây xanh
- Sân thể thao (bóng đá) xã có chiều dài tối thiểu 90 mét, chiều rộng tối thiểu 45 mét; có trồng cây xanh bóng mát
6.2. Xã có điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi theo quy định([5]) Đạt Đạt
6.3. Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa([6]) hoặc nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng 100% 100%
7 Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn Xã có chợ nông thôn hoặc nơi mua bán, trao đổi hàng hóa - Xã có chợ nằm trong quy hoạch mạng lưới chợ của tỉnh (trong kỳ quy hoạch cùng với kỳ phấn đấu đạt chuẩn NTM của xã) đạt chuẩn theo quy định hoặc xã có siêu thị mini/cửa hàng tiện lợi/cửa hàng kinh doanh tổng hợp đạt chuẩn theo quy định tại Quyết định số 4800/QĐ-BCT ngày 08/12/2016 của Bộ Công thương
- Xã không có chợ trong quy hoạch mạng lưới chợ của tỉnh hoặc có trong quy hoạch nhưng giai đoạn hiện tại chưa cần đầu tư xây dựng chợ thì không xem xét, đánh giá tiêu chí này.
 
 
 
 
8
 
 
 
Thông tin và Truyền thông
8.1. Xã có điểm phục vụ bưu chính Đạt Đạt
8.2. Xã có dịch vụ viễn thông, internet Tối thiểu 50% số thôn có hạ tầng kỹ thuật viễn thông đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ truy nhập internet hoặc có phủ sóng 3G/4G hoặc xã có ít nhất 01 điểm phục vụ dịch vụ viễn thông công cộng đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại và dịch vụ truy nhập internet Tối thiểu 80% số thôn có hạ tầng kỹ thuật viễn thông đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ truy nhập internet hoặc có phủ sóng 3G/4G hoặc xã có ít nhất 01 điểm phục vụ dịch vụ viễn thông công cộng đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại và dịch vụ truy nhập internet
8.3. Xã có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn - Có Đài truyền thanh (hữu tuyến hoặc vô tuyến) hoạt động tốt; có Ban Biên tập hoạt động đảm bảo nội dung, chất lượng tin bài phát sóng và tiếp âm đài các cấp theo quy định.
- Tối thiểu 70% thôn có hệ thống loa kết nối với Đài Truyền thanh xã hoạt động tốt
- Có Đài truyền thanh (hữu tuyến hoặc vô tuyến) hoạt động tốt; có Ban Biên tập hoạt động đảm bảo nội dung, chất lượng tin bài phát sóng và tiếp âm đài các cấp theo quy định.
- 100% thôn có hệ thống loa kết nối với Đài Truyền thanh xã hoạt động tốt
8.4. Xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành Có trang thông tin điện tử của xã hoặc có trang thông tin điện tử thành phần trên trang thông tin điện tử cấp huyện; có sử dụng chung phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc của huyện (Q-office) trong chỉ đạo, điều hành;
- Đảng ủy xã, HĐND xã, UBND xã và các tổ chức chính trị - xã hội của xã có máy vi tính, máy in, máy scan kết nối mạng phục vụ công tác (trong đó tối thiểu 01 máy scan dùng chung cho xã); tối thiểu 60% cán bộ, công chức xã có máy vi tính để làm việc chuyên môn, thực hiện nhận/gửi văn bản chỉ đạo điều hành qua mạng internet: Qua thư điện tử (email), qua trang thông tin điện tử của xã/huyện qua phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc (Q-office)
Có trang thông tin điện tử của xã hoặc có trang thông tin điện tử thành phần trên trang thông tin điện tử cấp huyện; có sử dụng chung phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc của huyện (Q-office) trong chỉ đạo, điều hành;
- Đảng ủy xã, HĐND xã, UBND xã và các tổ chức chính trị - xã hội của xã có máy vi tính, máy in, máy scan kết nối mạng phục vụ công tác (trong đó tối thiểu 01 máy scan dùng chung cho xã); tối thiểu 70% cán bộ, công chức xã có máy vi tính để làm việc chuyên môn, thực hiện nhận/gửi văn bản chỉ đạo điều hành qua mạng internet: Qua thư điện tử (email), qua trang thông tin điện tử của xã/huyện qua phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc (Q-office)
9 Nhà ở dân cư 9.1. Nhà tạm, dột nát Không Không
9.2. Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo quy định ≥ 75% ≥ 80%
10 Thu nhập Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 (triệu đồng/người/năm) - Năm 2017: ≥ 26
- Năm 2018: ≥ 30
- Năm 2019: ≥ 33
- Năm 2020: ≥ 36
- Năm 2017: ≥ 31
- Năm 2018: ≥ 35
- Năm 2019: ≥ 38
- Năm 2020:  ≥ 41
11 Hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 ≤ 12% ≤ 5%
12 Lao động có việc làm Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động ≥ 90% ≥ 90%
13 Tổ chức sản xuất 13.1. Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 Đạt Đạt
13.2. Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững Đạt Đạt
14 Giáo dục và Đào tạo 14.1. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đạt Đạt
14.2. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, trung cấp) ≥ 70% ≥ 85%
14.3. Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo ≥ 25% ≥ 40%
15 Y tế 15.1. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế ≥ 85% ≥ 85 %
15.2. Xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế Đạt Đạt
15.3. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi) ≤ 26,7% ≤ 24,2%
16 Văn hóa Tỷ lệ thôn đạt tiêu chuẩn văn hóa theo quy định ≥ 70% ≥ 70%
17 Môi trường và an toàn thực phẩm 17.1. Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định ≥ 90% nước hợp vệ sinh, trong đó ≥50% nước sạch ≥ 95% nước hợp vệ sinh, trong đó ≥60% nước sạch
17.2. Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường 100% 100%
17.3. Xây dựng cảnh quan, môi trường sáng - xanh - sạch - đẹp, an toàn Đạt Đạt
17.4. Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch - Có nghĩa trang nằm trong quy hoạch xã NTM (hoặc quy hoạch vùng đối với 2-3 xã quy hoạch 01 nghĩa trang) được xây dựng để thực hiện việc chôn cất phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán, hương ước của địa phương, làng, xóm; phù hợp truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại, không phô trương, lãng phí;
- Có quy chế quản lý nghĩa trang được UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt.
17.5. Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định Đạt Đạt
17.6. Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch([7]) ≥ 70% ≥ 85%
17.7. Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại và xử lý chất thải chăn nuôi(8) đảm bảo vệ sinh môi trường ≥ 60% ≥ 75%
17.8. Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm 100% 100%
 
 
 
 
18
 
 
 
Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật
18.1. Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn Đạt Đạt
18.2. Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định Đạt Đạt
18.3. Đảng bộ xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh" Đạt Đạt
18.4. Tổ chức chính trị - xã hội của xã đạt loại khá trở lên 100% 100%
18.5. Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định Đạt Đạt
18.6. Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội Đạt Đạt
19 Quốc phòng và An ninh 19.1. Xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng Đạt Đạt
19.2. Xã đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên: Không có khiếu kiện đông người kéo dài; không để xảy ra trọng án; tội phạm và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) được kiềm chế, giảm liên tục so với các năm trước Đạt Đạt
29.      Đề án phát triển kinh tế nông nghiệp thành phố Tam kỳ
Ngày 10 tháng 01 năm 2017, UBND thành phố Tam Kỳ ban hành Đề án phát triển kinh tế nông nghiệp thành phố giai đoạn 2016-2020. Các cơ chế hỗ trợ cụ thể như sau:
* Lĩnh vực trồng trọt:
          Tập trung quy hoạch, đầu tư hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất vào 4 nhóm đối tượng sản xuất chính:
          - Lúa lai, lúa chất lượng cao gắn với vùng "Dồn điền, đổi thửa" và xây dựng cánh đồng lớn;
          - Rau, củ, quả thực phẩm;
          - Hoa, cây cảnh;
          - Chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang cây trồng cạn hiệu quả cao hơn.

Phát triển vùng sản xuất lúa chất lượng cao gắn với "Dồn điền, đổi thửa" và xây dựng Cánh đồng lớn:

Quy hoạch:
TT Xã, phường Diện tích (ha) Địa điểm
(Thôn, khối phố)
Ghi chú
I Dồn điền đổi thửa      
1 Tam Phú 35 Cánh đồng Hở -Ngọc Mỹ Năm 2017-2018
II Cánh đồng lớn      
1 Tam Thăng 35 Thái Nam Đã dồn điền, đổi thửa
2 Tân Thạnh 30 Đoan Trai Đã chỉnh trang
3 Tam Ngọc 20 Đồng Sim Đã dồn điền, đổi thửa
4 Tam Phú 35 Cánh đồng Hở -Ngọc Mỹ Sau khi thực hiện dồn điền, đổi thửa ở trên
  Tổng cộng 120    
 
          Đầu tư hạ tầng:
          - Ưu tiên nguồn lực đầu tư hoàn thiện các công trình kiên cố hóa kênh mương, giao thông nội đồng, thủy lợi hóa đất màu, thủy lợi nhỏ.
          - Nâng cấp, sửa chữa các công trình đập dâng, trạm bơm điện hiện có và từng bước đầu tư hạ tầng phục vụ các cánh đồng đã ổn định sản xuất.
(Các công trình trong mục 1 phụ lục 01)
          Hỗ trợ phát triển sản xuất:
          - Hỗ trợ giá giống lúa lai, lúa chất lượng cao với mức 30% trong vụ đầu tiên, 40% trong vụ thứ 2 và không quá 500.000 đồng/ha. (Ngoài ra, tỉnh hỗ trợ thêm 30% giá giống cho 01 vụ đầu tiên và không quá 400.000 đồng/ha theo Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND).
          - Đối với máy làm đất, hỗ trợ 50% giá mua máy ghi trong hóa đơn bán hàng, nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 15 triệu đồng/máy.
 Phát triển vùng sản xuất rau, củ, quả thực phẩm
          Quy hoạch 6 vùng sản xuất rau, củ, quả thực phẩm với tổng diện tích là 21ha.
TT Xã, phường Diện tích (ha) Địa điểm
(Thôn, khối phố)
Đối tượng cây trồng
1 Tam Thăng 2 Tân Thái. - Rau ăn lá: rau gia vị, cải các loại, rau muống, nén,...
- Rau ăn quả: dưa leo, đậu bắp, đậu đũa, cà chua,...
2 Tam Thanh 3 Thanh Đông
3 Trường Xuân 4 Khối phố 2, 7
4 An Phú 8 An Hà Nam, An Hà Trung
5 Tam Phú 2 Phú Thạnh
6 Tam Ngọc 2 Thọ Tân
  Tổng cộng 21    
 
          Đầu tư hạ tầng:
          Đầu tư đường giao thông nội đồng, kênh tưới, kênh tiêu, hệ thống điện, giếng khoan và bể chứa nước cho các vùng sản xuất rau, củ, quả thực phẩm an toàn cung ứng hằng ngày cho nhân dân trên địa bàn thành phố. (danh mục các công trình trong mục 2 phụ lục 01).
          Hỗ trợ phát triển sản xuất:
          - Hỗ trợ 35% giá giống rau các loại theo giá thực tế trong phương án.
- Hỗ trợ 100% chi phí phân tích mẫu đất, mẫu nước; tập huấn hướng dẫn áp dụng quy trình sản xuất an toàn thực phẩm và đăng ký chứng nhận an toàn thực phẩm cho vùng sản xuất rau, quả, củ thực phẩm và không quá 25 triệu đồng/vùng.
          - Đối với các phương án sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến có quy mô diện tích sản xuất từ 300 m2 trở lên được hỗ trợ 40% lãi suất vay, với mức vay tối đa 300 triệu đồng, thời gian hỗ trợ 24 tháng (công nghệ sản xuất tiên tiến như: sử dụng màng phủ nông nghiệp (PE) trong canh tác; hệ thống nhà lưới; tưới tiết kiệm; ứng dụng công nghệ sinh học; áp dụng quy trình sản xuất rau an toàn hoặc thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP) hoặc sản xuất hữu cơ; sử dụng phân bón vi sinh, hữu cơ, sử dụng thuốc BVTV sinh học; bảo quản, sơ chế giảm tổn thất sau thu hoạch)
          - Hằng năm, lập kế hoạch để phối hợp với các hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp có phương án, dự án sản xuất rau, củ, quả thực phẩm an toàn để thực hiện các đề tài và các mô hình khuyến nông nhằm hỗ trợ cho các đối tượng trên về chuyển giao khoa học - công nghệ, giống và vật tư.
Phát triển vùng sản xuất hoa, cây cảnh
Quy hoạch
          Quy hoạch và phát triển 03 vùng trồng hoa, cây cảnh tập trung diện tích khoảng 09 ha với các hình thức trồng chuyên canh, trồng hoa theo mùa, cụ thể:
TT Xã, phường Diện tích (ha) Địa điểm
(Thôn, khối phố)
Đối tượng cây trồng
1 Tam Thăng 3 Thăng Tân Hoa cúc, ly ly, các loại hoa Lan, vạn thọ, đồng tiền,...
2 Tam Ngọc 4 Thọ Tân
3 Trường Xuân 2 Khối phố 2, 6
  Tổng cộng 9    
 
          Đầu tư hạ tầng
          Thực hiện đầu tư các dự án thủy lợi hóa đất màu để cung cấp nước cho các vùng trồng hoa theo mùa vụ (các công trình trong mục 2.6 phụ lục 01).
          Hỗ trợ phát triển sản xuất
          - Hỗ trợ 55% lãi suất vay theo số vốn thực vay, mức vay tối đa không quá 500 triệu đồng/dự án, thời gian hỗ trợ 24 tháng. (Kể từ thời điểm ngân hàng giải ngân).
          - Hỗ trợ 100% kinh phí thuê mặt bằng kinh doanh cho người trồng hoa, cây cảnh trên địa bàn thành phố tham gia các hội hoa xuân để quảng bá sản phẩm, với mức hỗ trợ tối đa 5.000.000 đồng/năm.
          - Hằng năm, lập kế hoạch để phối hợp với các hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp có phương án, dự án xây dựng các nhà vườn, trang trại trồng hoa cây cảnh chuyên canh để thực hiện các đề tài và các mô hình khuyến nông nhằm hỗ trợ cho các đối tượng trên về chuyển giao khoa học - công nghệ, tham quan học tập, cây giống và vật tư trong việc sản xuất các giống hoa, cây cảnh cho hiệu quả kinh tế cao.
Phát triển vùng chuyển đổi giống cây trồng:
          Quy hoạch
Hiện nay, ở các địa phương Tam Thăng, Tam Phú, An Phú có hơn 100 ha chỉ sản xuất lúa vụ Đông Xuân còn vụ Hè Thu thì không sản xuất hoặc sản xuất kém hiệu quả. Vì vậy, trong giai đoạn tới đầu tư và tổ chức thực hiện việc chuyển sang các cây trồng cạn có hiệu quả kinh tế như: mè, ngô, lạc và các giống khác phù hợp, hiệu quả.
Diện tích chuyển đổi trong giai đoạn 2016 - 2020 tại các địa phương như sau:
TT Xã, phường Diện tích (ha) Địa điểm
(Thôn, khối phố)
1 Tam Thăng 45 Tân Thái (20ha);
Kim Đới và Kim Thành (25ha)
2 Tam Phú 25 Phú Ngọc và Phú Quý (15ha);
Phú Đông-đồng Sếu (10ha)
3 An Phú 10 Phú Phong (10ha)
  Tổng cộng 80  
 
          Đầu tư hạ tầng
          Thực hiện đầu tư các dự án thủy lợi hóa đất màu như đầu tư hệ thống điện, khoan giếng,… để cung cấp nước cho các vùng chuyển đổi cây trồng cạn (Danh mục các công trình trong Mục 3, Phụ lục 01).
          Hỗ trợ phát triển sản xuất:
          Hỗ trợ 1 lần chi phí mua giống cây trồng các loại, tối đa 800.000 đồng/ha.
          (Còn tiếp)
         
PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ                        VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ
I. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC
1. Quá trình soạn thảo
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Convenant on Civil and Political Rights) (viết tắt là Công ước hoặc ICCPR) là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (International Convenant on Economic, Social and Cultural Rights – ICESCR) theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16/2/1966. Ngoài ra, một Nghị định thư tùy chọn đi kèm với ICCPR cũng được thông qua trong Nghị quyết số 2200 A (XXI) nhằm quy định các thủ tục giải quyết các khiếu nại của các cá nhân về việc vi phạm các quyền dân sự, chính trị của các quốc gia. ICCPR có hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Tầm quan trọng và ý nghĩa của ICCPR được thể hiện ở chỗ có 168 nước đã phê chuẩn Công ước này (tính đến tháng 7/2015).
ICCPR được coi là một phần của Bộ luật quốc tế về quyền con người, cùng với ICESCR và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR), được đặt dưới sự giám sát riêng của Ủy ban nhân quyền, độc lập với Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc. Cơ quan này có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và thẩm định các báo cáo nhân quyền của các nước. Mới đầu, các bên tham gia phải báo cáo định kỳ mỗi năm một lần, nhưng sau đó là bất kỳ khi nào Ủy ban giám sát yêu cầu (thông thường là bốn năm một lần). Đến năm 1976, một Nghị định thư tùy chọn thứ hai bổ sung ICCPR được thông qua theo Nghị quyết số 44/128 ngày 15/12/1989 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong đó đề cập đến việc xóa bỏ hình phạt tử hình.
1.     Việt Nam và sự tham gia ICCPR
Việt Nam đã gia nhập ICCPR và ICESCR ngày 24/9/1982. Khi gia nhập ICCPR và ICESCR, Việt Nam đưa ra tuyên bố: “Các quy định của khoản 1 Điều 48 của ICCPR và khoản 1 Điều 26 của ICCPR, theo đó một số quốc gia bị tước cơ hội trở thành thành viên của công ước này, là có tính chất phân biệt đối xử. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho rằng, các Công ước, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, nên mở ra cho mọi quốc gia tham gia mà không có bất kỳ sự phân biệt hoặc giới hạn nào”[1].
Từ khi tham gia ICCPR, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể để bảo đảm các quyền dân sự và chính trị cơ bản trong ICCPR được tôn trọng và thực thi trong thực tiễn. Với tầm quan trọng cũng như mức độ phổ quát của ICCPR, trong thời gian qua, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên của Công ước này. Theo Điều 40 của ICCPR, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ nộp báo cáo về các biện pháp mình thông qua để thực hiện các quyền trong Công ước và những tiến bộ đã đạt được trong việc thực hiện các quyền đó. Đến nay, Việt Nam đã nộp 02 báo cáo quốc gia về việc triển khai thực hiện Công ước. Báo cáo quốc gia thứ nhất được nộp vào năm 1989 và được Ủy ban Công ước xem xét vào ngày 12/7/1990. Báo cáo quốc gia thứ hai được nộp vào năm 2001 và được Ủy ban Công ước xem xét vào ngày 12/7/2002. Ủy ban Công ước đã hoan nghênh Việt Nam về báo cáo thứ hai với những thông tin chi tiết về pháp luật quốc gia và đã gửi một đoàn đại biểu đông đảo từ nhiều cơ quan khác nhau đến báo cáo.
Kể từ khi Việt Nam gia nhập ICCPR, Bộ Ngoại giao là cơ quan được giao làm đầu mối thực hiện Công ước này. Hai báo cáo quốc gia trước đây của Việt Nam do Bộ Ngoại giao chủ trì xây dựng. Tuy nhiên, đến năm 2013, nhiệm vụ làm đầu mối triển khai thực hiện Công ước được chuyển giao từ Bộ Ngoại giao sang Bộ Tư pháp. Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện ICCPR một cách bài bản, toàn diện. Hiện Bộ Tư pháp đang chủ trì xây dựng báo cáo quốc gia lần thứ ba về thực thi Công ước. 
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC
1.     Khái quát
ICCPR điều chỉnh những quyền cơ bản của con người thuộc phạm trù các quyền dân sự, chính trị. Các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do hội họp, quyền bầu cử và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật... ICCPR gồm 6 phần, 53 điều với những nội dung cơ bản sau đây:
-   Lời nói đầu gồm 5 đoạn.
-   Phần I gồm Điều 1 về quyền tự quyết.
-   Phần II, từ Điều 2 đến Điều 5, quy định về nguyên tắc bình đẳng, tạm đình chỉ các quyền trong tình trạng khẩn cấp và không được lạm dụng các quy định của Công ước.
- Phần III, từ Điều 6 đến Điều 27, quy định về các nội dung của các quyền dân sự (quyền sống, quyền không bị tra tấn, quyền không bị bắt làm nô lệ… ); các quyền chính trị (quyền hội họp, quyền lập hội, quyền tham gia đời sống chính trị) và một số quyền của trẻ em, quyền của người thiểu số. Đây là phần chứa đựng những nội dung quan trọng nhất, trong đó bao gồm các quy định về nội hàm của các quyền dân sự và chính trị.
- Phần IV, từ Điều 28 đến Điều 45, quy định về thành lập, cơ cấu, tổ chức và hoạt động của HRC – cơ quan có nhiệm vụ giám sát việc thi hành Công ước.
-   Phần V, gồm Điều 46 và Điều 47, quy định về việc giải thích Công ước không được làm phương hại đến các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc và quyền của các dân tộc trong việc quyết định về tài nguyên của mình.
-   Phần VI, từ Điều 48 đến Điều 53, quy định về việc ký kết, gia nhập, phê chuẩn, sửa đổi và hiệu lực của Công ước.
2.     Các quyền được Công ước công nhận
2.1.         Một số quyền đặc biệt
Có ba quyền có vị trí đặc biệt trong ICCPR, đó là:
2.1.1.  Quyền tự quyết
Quyền tự quyết được quy định tại Điều 1 Phần I của Công ước. Đây là một quyền tập thể thuộc về các dân tộc, có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tất cả các quyền con người khác. Theo đó, Công ước công nhận quyền tự quyết của mọi dân tộc, bao gồm quyền được “tự do định đoạt thể chế chính trị và theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá” trong điều kiện thực tế của mình. Công nhận rằng quyền sinh kế của một dân tộc không bao giờ bị tước bỏ. Để đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghĩa vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Các quốc gia thành viên ký kết Công ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc.
2.1.2.  Quyền không phân biệt đối xử
Quyền này được quy định tại Điều 2(1), Điều 3 và Điều 26 của Công ước. Đây là một nguyên tắc bao trùm, đòi hỏi bảo đảm khi thực hiện các quyền con người. Theo đó, Công ước yêu cầu các bên tham gia ký kết thực hiện các bước cần thiết để hiện thực hóa các quyền được công nhận trong Công ước, đồng thời trừng phạt và sửa chữa bất kỳ vi phạm nào trong quá khứ và hiện tại. Các bên tham gia phải cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được thừa nhận trong Công ước cho “tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác”, đồng thời ghi nhận nam, nữ được hưởng các quyền về dân sự và chính trị nêu trong Công ước một cách bình đẳng. Những quyền này “chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp khẩn cấp đe dọa đến sự tồn vong của một quốc gia”, và ngay cả trong trường hợp đó cũng không tha thứ bất kỳ hành vi nào xâm phạm các quyền được sống, quyền không bị tra tấn và bị bắt làm nô lệ, quyền miễn trừ hồi tố, quyền được giữ nguyên chính kiến, quyền tự do tư tưởng - lương tâm và tôn giáo.     
Theo Bình luận chung số 18, Ủy ban Nhân quyền giải thích thêm rằng không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất cứ sự phân biệt nào là quy định tạo nên cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ quyền con người. Khoản 1 Điều 2 của Công ước yêu cầu các quốc gia phải tôn trọng và bảo đảm cho tất cả mọi người trong lãnh thổ và phạm vi tài phán của mình các quyền đã công nhận trong Công ước mà không có bất cứ sự phân biệt nào như về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã hội, tài sản, nguồn gốc hay các yếu tố khác. Điều 26 không chỉ cho phép tất cả mọi người được bình đẳng trước pháp luật cũng như được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà còn nghiêm cấm bất cứ sự phân biệt đối xử nào theo luật và bảo đảm cho tất cả mọi người được bảo vệ một cách hiệu quả chống lại mọi sự phân biệt dựa trên bất cứ hình thức nào.
Uỷ ban Nhân quyền cho rằng thuật ngữ “sự phân biệt”, như đã sử dụng trong Công ước, được hiểu là bao hàm bất cứ sự phân biệt, loại trừ, hạn chế hay thiên vị nào trên bất cứ lĩnh vực nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo chính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã hội, tài sản, nguồn gốc hay các vị thế khác mà có mục đích hoặc ảnh hưởng vô hiệu hóa hoặc làm suy giảm sự thừa nhận, sự hưởng thụ hay áp dụng các quyền và tự do cho tất cả mọi người trên cơ sở bình đẳng.
(Còn nữa, theo Bộ Tư pháp)

PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ I/2017
 
1. Thành phố Tam Kỳ tập huấn nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính
Chiều ngày 09/02/2017, UBND thành phố Tam Kỳ tổ chức Hội nghị tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xử lý vi phạm hành chính cho hơn 120 đại biểu là cán bộ trực tiếp tham mưu công tác xử lý vi phạm hành chính của các phòng, ban thành phố; Chủ tịch UBND các xã, phường; công chức Tư pháp - Hộ tịch, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, cán bộ Quản lý hiện trạng và Tổ trật tự đô thị của 13 xã, phường. Tham dự hội nghị có đồng chí Đặng Văn Đào - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh; các đồng chí là đại diện của các phòng nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng tỉnh. Đồng chí Nguyễn Minh Nam - Phó Chủ tịch UBND thành phố khai mạc Hội nghị.
Tại Hội nghị, các đại biểu được bồi dưỡng các kiến thức liên quan đến quy trình xử lý vi phạm hành chính, những điểm chính của quy trình xử lý hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng. Đặc biệt, Hội nghị cũng đã giành nhiều thời gian cho việc trao đổi, giải đáp một số tình huống vướng mắc xảy ra trong thực tiễn trên lĩnh vực và được đại diện các ngành chuyên môn của tỉnh hướng dẫn tận tình, sâu sát. Dịp này, Ban Tổ chức cũng đã phát phiếu và tiến hành khảo sát về kiến thức pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các đại biểu tham dự.
Hội nghị là dịp để các đại biểu trao đổi, giải đáp các vướng mắc trong quá trình thực tiễn công tác, là dịp để nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ trong công tác xử lý và tham mưu xử lý VPHC của cán bộ, công chức, viên chức thành phố và xã phường, giúp các cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật./.
Thúy Sương
2. Tam Kỳ tổ chức Ngày hội tư vấn thủ tục hành chính
Ngày 25/02/2017, Phòng Tư pháp thành phố phối hợp với Thành đoàn, UBND xã Tam Phú và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Ngày hội tư vấn thủ tục hành chính cho nhân dân xã Tam Phú, Tam Thăng, phường An Phú trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ tịch, hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, chứng thực hợp đồng giao dịch, cấp giấy phép xây dựng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ chính sách đối với người có công, gia đình liệt sỹ...
Tại buổi tư vấn, hơn 150 tổ chức, cá nhân đã được đại diện Công an thành phố, Bảo hiểm xã hội thành phố, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tư pháp, Phòng Tài nguyên và môi trường, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của thành phố trực tiếp tư vấn, hướng dẫn quy trình các bước khi thực hiện thủ tục hành chính. Một số vướng mắc liên quan đến pháp luật cũng được cán bộ các cơ quan, đơn vị giải đáp cụ thể. Ông Nguyễn Tấn Vũ, thôn Tân Phú, xã Tam Phú chia sẻ: “ Trước đây, cha tôi có nhận chuyển nhượng một mảnh đất nhưng chỉ thỏa thuận bằng viết tay. Nhờ có buổi tư vấn này, tôi được giải thích việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay mà không công chứng, chứng thực, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền là sai quy định và được cán bộ tư vấn hướng dẫn cụ thể cách thức khắc phục sai sót này”.
Theo ông Nguyễn Quốc Sử - Phó Trưởng phòng Tư pháp: “Ngày hội Tư vấn thủ tục hành chính là một hình thức tuyên truyền pháp luật mới, hiệu quả, đáp ứng cao nhu cầu tìm hiểu, tiếp cận pháp luật của người dân. Với sự phối hợp tham gia của nhiều cơ quan đơn vị, những vướng mắc của người dân sẽ được hỗ trợ, tư vấn, giải đáp cụ thể, cặn kẽ. Trong thời gian tới, định kỳ hằng tháng, Phòng Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị để tiếp tục thực hiện hình thức này”.
Tấn Tân
3. Tam Kỳ tiếp nhận và giải quyết TTHC trên lĩnh vực Tư pháp tại Bộ phận 1 cửa thành phố từ 01.3.2017
Kể từ ngày 01/3/2017, tất cả các thủ tục hành chính trên lĩnh vực Tư pháp gồm: lĩnh vực hộ tịch, chứng thực sẽ được tiếp nhận, giải quyết và giao trả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (một cửa) của thành phố Tam Kỳ (địa chỉ số 159 Trưng Nũ Vương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Quy định trên vừa được UBND thành phố ban hành tại Thông báo số 53/TB-UBND ngày 21/02/2017.
Quy định trên nhằm đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho cá  nhân, tổ chức khi thực hiện TTHC tại thành phố, giúp thành phố Tam Kỳ củng cố thêm nguồn nhân lực để Trung tâm Hành chính công của thành phố đi vào hoạt động trong thời gian đến./.
Thúy sương
4. Công bố kết quả thi pháp luật trực tuyến
Đợt 4 (01/10/2016-31/12/2016)
  
STT Người/ đơn vị nhận Giải
01 Trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm Giải tập thể
02 Trần Huy Cường - Giáo viên Trường Cao đẳng Kinh tế kĩ thuật Quảng Nam Giải nhất
03 Dương Thị Thủy Lợi - Giáo viên trường tiểu học Lê Văn Tám, TP Tam Kỳ Giải nhất
04 Nguyễn Thanh Yên - Chủ tịch UBND xã Tam Ngọc, TP Tam Kỳ Giải nhì
05 Dương Ngọc Thiên - Khối phố 7, phường An Sơn, TP Tam Kỳ  Giải nhì
06 Trần Thị Hoàng Yến - Nhân viên thư viện trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm, TP Tam Kỳ Giải ba
07 Phạm Nguyễn Hồng Châu - Đoàn phường Tân Thạnh, TP Tam Kỳ Giải ba
08 Bùi Minh Phương - Đoàn phường Tân Thạnh, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
09 Lê Viết Quang - UBND xã Tam Ngọc, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
10 Cao Thị Thùy Linh - UBND phường An Sơn, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
11 Nguyễn Thúy Hằng - Học sinh lớp 4/2 trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
12        Vũ Thị Thu Ba - UBND phường Hòa Thuận, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
13 Nguyễn Thanh Dự - UBND xã Tam Ngọc, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
 
PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
Chuẩn bị bầu hòa giải viên
NHÂN VẬT
Ông Thạch: Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn
Ông Linh: Trưởng thôn
Bà Nguyệt: Chi hội trưởng chi hội phụ nữ kiêm Hội Nông dân
Ông Thường: Đại diện Hội cựu chiến binh
Anh Lý: Đại diện đoàn thanh niên
[Sau khi nhận được thông báo về việc rà soát, kiện toàn tổ hòa giải thôn X, tranh thủ trên đường từ Ủy ban nhân dân xã về nhà, ông Thạch – Trưởng ban công tác Mặt trận thôn đi một vòng qua nhà ông Linh - trưởng thôn, bà Nguyệt – Chi hội trưởng chi hội phụ nữ kiêm Hội Nông dân, anh Lý – đại diện đoàn thanh niên, ông Thường – đại diện Hội cựu chiến binh, thông báo 8 giờ tối nay họp tại nhà văn hóa thôn. 7h45’ ông Thạch đã ra mở cửa, bật đèn, chuẩn bị trà nước cho buổi họp tối. 8h05’ mới thấy ông Linh trưởng thôn đến]
Bà Nguyệt: Chào ông, chiều ra đồng về thấy con cháu nói ông qua nhà báo tối nay họp. Họp việc chi vậy bác, đang mùa màng thu hoạch thế này.
Ông Thạch: Thì tôi cũng biết thế, nhưng việc nước việc làng, tranh thủ họp thống nhất một lúc thôi bà ạ.
Bà Nguyệt: Vâng, mà còn có ai dự họp nữa không ông?
Ông Thạch: Còn ông Linh, anh Lý, ông Thường nữa bà ạ.
[Vừa hay lúc đấy, cả ba người cùng đến]
Ông Linh: Chào ông Thạch, bà Nguyệt. Tối nay họp về nội dung gì vậy ông Thạch?
Ông Thạch: Các ông bà đã đến đủ. Ta bắt đầu họp luôn được rồi chứ nhỉ?
Ông Thường: Vâng, có nội dung gì ông triển khai luôn. Đang nông vụ chí kỳ thế này.
Ông Thạch: Vâng, như ông, bà đã biết. Tháng trước, bà Hòa tổ viên tổ hòa giải thôn mình mất. Thành viên trong tổ hòa giải không còn ai là nữ. Theo quy định, thì chúng ta phải bầu bổ sung cho đủ thành phần các ông bà ạ.
Ông Thường: Thì ông cứ thực hiện bầu hòa giải viên như trước đây thôi.
Ông Thạch: Ấy, ấy, không được. Trước đây là ta bầu theo quy định của Pháp lệnh cũ, còn bây giờ đã có Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013. Do khi Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực, tổ hòa giải thôn đã được thành lập theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, nhưng  đủ thành phần, số lượng theo quy định mới nên không phải bầu bổ sung hòa giải viên theo trình tự, thủ tục mới. Nay phát sinh sự việc của bà Hòa nên phải bầu bổ sung mới ông ạ.
 Ông  Linh: Ông Thạch nói đúng đấy ông Thường ạ. Đây, Điều 12 của Luật Hòa giải ở cơ sở quy định rõ, mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số. Hiện tại, tổ hòa giải thôn ta có 4 thành viên, mặc dù đủ về số lượng nhưng lại thiếu thành phần nữ hòa giải viên ông ạ.
Ông Thường: Thế à, ông xem luôn thủ tục bầu bổ sung thế nào để triển khai luôn.
Ông Thạch: vâng, tôi đã tìm hiểu kỹ quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc bầu hòa giải viên được quy định tại Điều 8 Luật hòa giải ở cơ sở, Điều 12 Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTWMTTQVN ngày 18/11/2014 giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Tôi đã đánh dấu trong văn bản cả rồi, các ông bà xem đi.
[Sau khi đọc quy định của pháp luật, anh Lý đăm chiêu rồi nói]
Anh Lý: Úi chà, bầu hòa giải viên mà phức tạp thế này cơ hả các bác. Sao không chỉ định như trước đây cho đơn giản nhỉ?
Ông Thạch: Dân chủ ngày càng mở rộng, mà hòa giải viên chỉ định như  Pháp lệnh cũ thì cũng không nên. Hơn nữa, hòa giải viên do chính người dân ở cộng đồng bầu ra, được chính quyền xã công nhận để có địa vị pháp lý làm việc với dân. Hòa giải viên được bầu chính danh ngôn thuận như thế thì hoạt động sẽ thuận lợi hơn nhiều anh Lý ạ.
Bà Nguyệt: Thì cũng biết dân bầu trực tiếp là tốt nhưng mà đang mùa màng tối mặt tối mũi thế này thì làm sao triệu tập dân họp được hả bác?
Ông Thạch: Vấn đề bà Nguyệt nói là một trong các nội dung mà tôi đề xuất chúng tôi bàn bạc, trao đổi tối nay đấy ạ. Thứ nhất là chúng ta phải dự kiến những người được bầu làm hòa giải viên; tiếp đến là thống nhất thời gian bầu hòa giải viên cũng như hình thức bầu hòa giải viên.
Ông Thường: Vâng, để tiết kiệm thời gian, tôi giới thiệu bà Nguyệt, cô giáo Thanh, con dâu nhà ông bà Hoạch. Tuy mới về làm dâu được mấy năm thôi nhưng cô giáo Thanh cũng là người rất gương mẫu, nếp sống hòa nhã, tôi thấy mọi người trong thôn rất quý mến đấy.
Ông Linh: Đầu năm ngoái ấy. Bà Thủy mà được bầu vào tổ hòa giải, thì tổ hòa giải sẽ hiệu quả hơn rất nhiều đấy. Các cụ nói “Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình”, nhưng mà theo tôi quan sát thấy, hiểu biết của người dân bây giờ được nâng nên rất nhiều so với trước đây. Chúng ta hòa giải mà không có cơ sở pháp lý thì thuyết phục người dân cũng khó đấy ông ạ.
Ông Thạch: Vậy là chúng ta có 03 ứng cử viên nữ. Ý kiến bà Nguyệt thế nào?
Bà Nguyệt: Tôi thấy danh sách như vậy là hợp lý đấy. Tuy nhiên, chúng ta phải trao đổi với cô giáo Thanh, bà Thủy xem họ có đồng ý không đã.
Ông Linh: Bà Nguyệt nói đúng đấy. Hòa giải viên là người ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng nên rất cần có sự nhiệt tình, tâm huyết với công việc. Mà chắc gì họ đã đồng ý tham gia. Pháp luật cũng quy định rõ rồi đây này: danh sách bầu hòa giải viên chỉ được lập sau khi đã trao đổi, động viên và nhận được sự đồng ý của những người được giới thiệu bầu làm hòa giải viên.
Ông Thường: Đó, về vấn đề này, xin giao bà Nguyệt gặp gỡ, động viên cô giáo Thanh, bà Thủy được không ạ. Phụ nữ với nhau cả, nói chuyện nó dễ hơn bà ạ.
Bà Nguyệt : Vâng.
Ông Thạch: Vậy, ngày mai bà tranh thủ triển khai giúp luôn để tôi lập danh sách bầu.
Bà Nguyệt : Vâng, mai tôi sẽ làm.
Ông Linh: Còn về hình thức bầu, theo tôi nên phát phiếu đến tận gia đình ông ạ. Anh em mình vất vả phải đến từng nhà nhưng được cái thuận cho người dân khi đang trong mùa vụ. Các ông, bà thấy thế nào?
[Tất cả đều đồng thanh: Nhất trí]
Ông Thạch: Như vậy, chúng ta đã thống nhất được các nội dung họp hôm nay. Đợi kết quả “thương lượng” của bà Nguyệt, tôi sẽ lập danh sách và chuẩn bị các thủ tục tiếp theo để bầu bổ sung hòa giải viên nữ mới.
Ông Thường: Vâng, nhanh gọn nhưng đúng pháp luật các ông bà ạ. Nói thật chứ cũng là hòa giải viên, tôi chỉ mong được thất nghiệp dài dài thôi.
Ông Thạch: Này có hai khía cạnh thất nghiệp đấy: thất nghiệp do dân làng sống hòa thuận, yên vui thì còn tốt, chứ thất nghiệp mà do chúng ta làm việc không nhiệt tình, hết trách nhiệm, để mâu thuẫn cứ âm ỉ mãi thì lại là mối lo đấy ông ạ.
Ông Thường: Cái ông này, lại mắc bệnh cũ, động một tý là lại chẻ chữ. Tôi mà mong như khía cạnh hai như ông nói thì đã không được dân làng tin tưởng bầu làm hòa giải viên gần 2 chục năm nay.
[Mặc dù, nội dung họp đã xong, công việc mùa màng ngày mai vẫn còn đó, nhưng mọi người vẫn ngồi hàn huyên, nói chuyện cho đến gần 10 giờ mới ra về]
Nguồn: moj.gov.vn


[1] Xem: Đặng Trung Hà, Kết quả ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về nhân quyền và vấn đề nội luật hóa vào pháp luật Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.